1-Quy chế đấu thầu Dự án gold Tower (trước đây),Luật Đấu thầu và các NĐ,TT liên quan việc lựa chọn nhà thầu Dự án gold Tower quy định đối tượng,phạm vi điều chỉnh cho các tổ chức,trong đó có doanh nghiệp là sử dụng vốn nhà nước thực hiện DAĐT.Đây là nguyên tắc bất di,bất dịch-không ai sử dụng vốn nhà nước mà không bị chế tài của các quy định pháp luật này.Còn các nhà ĐT Dự án gold Tower không sử dụng hoặc sử dung dưới 30 % vốn nhà nước không bị điều chỉnh bởi các quy định PL này(nghĩa là hoàn toàn quyết định trong suốt quá trình thực hiện DA).
2-Việc vốn nhà nước chiếm 51 % trong doanh nghiệp không liên quan tới việc lựa chọn nhà thầu của DA mà chỉ quan tâm tới việc có sử dụng vốn nhà nước (trên 30%) vào một DA cụ thể không.Điều này phải phân biệt cho rõ để lựa chọn việc áp dụng các quy định của PL trong Đấu thầu.
Cũng nhắc thêm là khi nghiên cứu VB QP PL thì bạn nên đọc thật kỹ,liên hệ điều khoản này với các điều khoản khác;văn bản này với các văn bản khác liên quan thì mới thấu hiểu và thực hiện. Mình xin luận theo hướng khác, dụng luật mãi cũng chán, việc như thế này :

– Lật ra đời trên cơ sở những vấn đề mà XH cho là đúng và XH chấp nhận nó;
– Luật về đầu thầu cũng vậy;

Bạn 5…3 đặt ra vấn đề cho một trường hợp nào đó thì có phải đấu thầu hay không, theo mình luận thế này :

A : Luật đấu thầu đã được XH chấp nhận vì hoạt động này đưa đến sự công bằng, minh bạch hợp lý. Theo sau nó là hành lang pháp lý để minh chứng cho sự công bằng, minh bạch hợp lý làm cơ sở pháp lý để giải trình cho chủ thể mời thầu;
B : Chủ thể mời thầu có thể là một nhóm người (dạng CT cổ phần or TNHH…thậm chí là doanh nghiệp với sự góp vốn của các thành viên trong gia định) hoặc của toàn dân (Được định nghĩa là vốn Nhà nước);
C : Vì vậy để có cơ sở minh chứng thì XH cần phải căn cứ theo hành lang pháp lý nào đó, ở đây đó là Luật ĐT và các văn bản dưới luật;

A : hợp lý; B: hợp lý; C:hợp lý–>Nếu muốn công băng, minh bạch, hợp lý–>áp dụng hành lang pháp lý đã được XH luật hóa!